TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ
DIỆN MỤC KỲ ĐẶC của THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
Tham luận Hội Thảo Khoa Học “Cư Sĩ Phật Giáo Trong Lịch Sử – Kỷ Niệm 730 Năm Tuệ Trung Thượng Sĩ Viên Tịch”
Vào thế kỷ 13, đất nước ta đã xuất hiện một con người đời đạo viên dung, đôi vai gánh vác sơn hà khi quân Nguyên giày xéo, chân đạp lợi danh vượt lẽ thường tình. Tuy thân ở chốn đô thị phồn hoa mà tâm hồn cao khiết, tự tại không dính một mảy bụi trần.
Người đã gây chấn động muôn người chay lạt bằng thái độ rượu thịt của mình và cho đến hôm nay hương đạo thiền sĩ ấy vẫn còn lan tỏa theo bước thời gian, làm ấm lên những tâm hồn lạnh lẽo nằm im giữa rừng rậm hoang dại vô minh. Không dùng dằng, không tiếc nuối, như kiếm bén giơ lên liền chặt đứt mọi phiền não buộc ràng. Tất cả kiến giải nhị nguyên như: khổ/vui, sanh tử/niết-bàn, phàm/thánh, có/không, đúng/sai... đều bị tiếng nói của người làm cho rung chuyển, đổ nhào.
Không một ngôn từ nào có thể định nghĩa được, không một hình ảnh nào có thể phô diễn được, không một lời nói nào có thể biểu đạt hết những cung bậc trong tâm hồn Người, không một màu sắc nào có thể vẽ lên được chân dung của Người. Vì không thể lấy cái hữu hạn để tả cái vô hạn, chỉ có thể tạm mượn danh từ giả tạm để gọi tên Người: Thượng sĩ Tuệ Trung.
Thượng sĩ tên thật là Trần Tung là con cả của An sinh vương Trần Liễu, là anh ruột của Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng hậu, cũng là anh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ngài được Thượng hoàng Trần Thái Tông phong tước là Hưng Ninh vương và có công trực tiếp chống quân Nguyên Mông xâm lược lần hai và ba. Thượng sĩ thuở nhỏ đã mến mộ cửa Không. Ngài học đạo với Thiền sư Tiêu Dao ở tinh xá Phước Đường vốn là học trò của Thiền sư Cư sĩ Ứng Thuận. Ngài mến đạo nhưng không xuất gia, chỉ với sự nỗ lực bằng trí tuệ và tu nghiệm của mình, ngài trở thành bậc thiền giả nổi tiếng đương thời và được vua Trần Thánh Tông tôn làm đạo huynh, ban hiệu là Tuệ Trung Thượng sĩ. Đồng thời cũng chính Thượng sĩ đã thổi luồng tư tưởng thiền học, hình thành Thiền phái Trúc Lâm khi làm bậc thầy của Phật Hoàng Trần Nhân Tông - vị Sơ tổ của Thiền phái này.
Và chắc chắn để phác họa nên diện mục của ngài ta sẽ không thể dừng lại ở từng ấy dòng dữ liệu khô khan, rời rạc.Vì rằng:
這 老 古 錐
人 難 名 邈
梁 皇 曲 尺
泰帝 鐸轢
能 方 能 圓
能 厚 能 薄
法 海 獨 眼
禪 林 三 角
Lão cổ chùy này
(Là mẫu) người khó diễn tả
Thước thợ Lương Hoàng
Chuông xe Thái Đế.
Hay vuông (làm trái) hay tròn (hoàn thành)
Hay dày (coi trọng) hay mỏng (xem khinh).
Một mắt (của) biển pháp
Ba góc (của) rừng thiền
Giá lão cổ chùy/nhân nan danh mạc
Lão cổ chùy này, người khó diễn tả.
Lão cổ chùy là dùi được trui già lửa. Tại sao ở đây nói cái dùi sắt già dặn? Trong nhà Thiền hay dùng cụm từ này để tượng trưng cho bậc thiền sĩ lão luyện, cơ phong sắc bén. Điều Ngự Giác Hoàng tán thán Thượng Sĩ, ví Thượng sĩ như cái dùi cứng chắc nhất, không có dùi nào bì nổi. Cũng như Tôn giả Pháp Loa tán thán Thượng sĩ, ví con người của Thượng sĩ được nhồi lại bằng gang ròng, bằng sắt sống, cứng chắc vượt hơn tất cả:
Gang ròng nện nên,
Thép sống đúc thành
(Thuần cương đả tựu
Sinh thiết chú thành)
Đứng về mặt tính cách mà nhìn thì Thượng sĩ là con người cương nghị, dũng cảm, rõ nhất là khi Ngài vào doanh trại Thoát Hoan để thực hiện kế trá hàng quân Nguyên.
Thước trời tấc đất,
(Xích thiên thốn địa)
Muốn đo lường tướng mạo của Thượng sĩ, dù lấy thước bằng trời, tấc bằng đất cũng không đo lường được. Pháp Loa muốn ám chỉ chân diện mục của Tuệ Trung: Pháp thân.
Còn về tinh thần?
Gió mát trăng thanh.
(Nguyệt bạch phong thanh)
Vì Thượng sĩ ở khắp cùng, đâu có gió mát trăng thanh là có Thượng Sĩ; cũng có nghĩa nơi Ngài có đầy đủ Từ bi và Trí tuệ vượt bậc không ai bì nổi.
Và, muốn diễn tả tính cách của Ngài:
Lương Hoàng khúc xích
Thước thợ Lương Hoàng
Lương Hoàng梁 皇: vị vua xưa theo truyền thuyết Trung Quốc. Khúc xích曲 尺: thước thợ dùng đo định góc vuông.
Thước thợ Lương Hoàng chỉ cho dụng cụ của vị vua thời Thái cổ dùng để an bài trật tự xã hội, định hướng phép tắc quốc gia.
Thái Đế đạc lịch
Chuông xe Thái Đế
Thái Đế 泰帝: còn gọi là Thái Hoàng. Theo Sử ký xưa ghi thì có Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Thái Hoàng. Riêng Thái Hoàng là đáng tôn quý hơn cả. Đạc lịch鐸轢: đạc là chuông lắc treo trên căm xe. Lịch là bánh xe. Thuở xưa, khi vua đi tuần thú thì treo chuông trên căm xe để đi tới đâu thì chuông rung báo cho dân biết mà chào đón. Vậy Thái Đế đạc lịch là tín hiệu thân dân của các vị vua thời Thái cổ. Hai câu Thước thợ Lương Hoàng/Chuông xe Thái Đế ám chỉ tài an bang tế thế và tính cách thân thiện với mọi người của Tuệ Trung. Tài năng và tính cách đó được trình bày rõ hơn như sau:
Năng phương
Hay vuông (làm trái)
Thượng sĩ hành xử hết sức linh hoạt, khi cần tùy cơ để khai thị người học đạo tu hành mà còn nhiều chấp trước, Ngài làm trái (nói nghịch) cũng được.
Tu hành trước tiên phải giữ giới trì trai, ấy vậy mà Tuệ Trung Thượng Sĩ lại bảo:
Trì giới và nhẫn nhục
Chuốc tội chẳng chuốc phúc
(Trì giới kiêm nhẫn nhục
Chiêu tội bất chiêu phúc)
Tu hành là gìn giữ giềng mối Phật pháp, trau dồi Tam vô lậu học Giới Định Tuệ, làm theo lời dạy của Thế Tôn khi xưa: “Này các tỷ-kheo sau khi ta diệt độ, hãy tôn trọng trân kính Ba-la-đề-mộc-xoa...phải biết giới này là đức thầy cao cả của quý vị, nếu như ta còn ở đời thì cũng không khác gì giới này”... Ấy vậy mà Tuệ Trung lại bảo:
Muốn biết không tội phúc
Đừng trì giới nhẫn nhục
(Dục tri vô tội phúc
Phi trì giới nhẫn nhục)
Tu hành là để kính Phật trọng tăng, kính những bậc tiền bối tổ sư vì đã có công khai sáng con đường giác ngộ, truyền đăng tục diệm ở thế gian. Do vậy mà hôm sớm phải đảnh lễ, học hạnh người xưa. Ấy vậy mà Tuệ Trung lại bảo:
Rốt cùng Phật tổ đều không lạy
Ánh trăng soi suối nét ngọc ngời
(Phật Tổ đáo đầu câu bất lễ
Thu quang hiểu giản ngọc sùng vinh)
Tu hành là để thanh tịnh thân tâm thông qua tám vạn bốn ngàn pháp môn hoặc Chỉ hoặc Quán hoặc Thiền, hoặc Tịnh, hoặc Mật, hoặc Luật để an tịnh thân tâm, hiển lộ thể tâm trong sáng. Các vị thánh A-la-hán phải trải qua Tứ thiền bát định, trừ bỏ 88 món kiến hoặc mới đạt được chỗ vô sanh. Ấy vậy mà Tuệ Trung lại bảo:
Đến lúc mỏi rồi tâm tự nghỉ
Chẳng do nhiếp niệm chẳng do thiền.
(Tự thị quyện thời tâm tự tức
Bất quan nhiếp niệm, bất quan thiền)
Đức Thế tôn tu hành Lục độ bỏ hết thân này đến thân khác, trải qua ba tăng kỳ kiếp rồi khi sao mai lố dạng, sau sáu năm khổ hạnh chốn rừng già, bốn mươi chín ngày đêm thiền quán liên tục, Ngài mới chứng được đạo vàng. Khó khổ vậy mà Tuệ Trung lại bảo:
Đạo lớn không khó đừng nói khó,
Quay đầu, động não, cảm thấy mờ mịt.
(Chí đạo vô nan mạc đạo nan
Hồi đầu chuyển não giác man can)
Nhị tổ ngày xưa phải chặt bỏ cánh tay cho màu máu đỏ phủ màu tuyết trắng mới được phép an tâm. Thiện Tài đồng tử phải khoác áo phong sương lặn lội cầu pháp với 53 vị Bồ Tát, cuối cùng mới ngộ đạo. Ấy vậy mà Tuệ Trung lại khoát tay bảo thôi tất:
Thôi tìm Thiếu Thất với Tào Khê
(Hưu tầm Thiếu Thất dữ Tào Khê)
Đừng tìm kiếm Thiếu Thất với Tào Khê nữa! Như vậy há chẳng phải Thượng sĩ bảo ta đừng tu nữa ư? Tuyệt không phải thế!
Điều mà Tuệ Trung muốn nói là:
Giữ giới thật chu đáo thật cẩn thận mà không thấy mình giữ giới, không dương dương tự đắc với chỗ sở đắc, không sanh tâm kiêu mạn với những gì mình được hay chê bai những gì người khác chưa đạt đến. Giữ giới mà không thấy mình giữ giới, nhẫn nhục mà không thấy mình nhẫn nhục thì đó mới là Ba-la-mật.
Lạy Phật mà thấy được “năng lễ sở lễ tánh không tịch” thì đó mới là thật lễ. Thiền hay Tịnh, Chỉ hay Quán mà hiểu được, thấy được tướng như huyễn của người tu, pháp tu, cảnh được tu thì đó mới gọi là Tam luân không tịch, đạt được Trung đạo đệ nhất nghĩa đế.
Giới luật luôn là hình ảnh mô phạm, luôn là khuôn vàng thước ngọc cho mọi hành giả Phật giáo, và cũng là dấu hiệu duy nhất để biết Phật giáo có còn trụ thế. Tuy giữ giới trì trai là bổn phận của một tu sĩ Phật giáo, nhưng đồng thời không lấy đó làm niềm kiêu hãnh, hay vin vào đó để tôn vinh bản ngã, cơ hội cho ý đồ hám danh trục lợi. Trì trai giữ giới hay tu hạnh nhẫn nhục, bố thí cho đến Lục độ vạn hạnh thì đều phải bước ra khỏi vòng chấp trước. Dù là trau dồi Tam vô lậu, siêng tu giới định tuệ mà không thoát ra khỏi vòng pháp chấp, ngã chấp, thường kiến, đoạn kiến thì đó cũng là tà đạo.
Năng viên
Hay tròn (hoàn thành)
Như vua Trần Nhân Tông đã khẳng định: “Ngài cùng mọi người chưa từng chống trái, nên hay làm hưng thạnh hạt giống chánh pháp, dạy dỗ được hàng sơ cơ, người đến hỏi han, Ngài đều chỉ dạy cương yếu, khiến họ trụ tâm tánh... Thượng sĩ là người khí lượng uyên thâm, phong thần nhàn nhã... Hằng ngày, Ngài lấy thiền duyệt làm vui, không lấy công danh làm sở thích”10. Cho nên có thể nói Thượng sĩ là con người rất chân tình, chu đáo, hiếu thuận nhưng đồng thời cũng vượt thoát thường trình. Dù vượt thoát thường trình nhưng rất trọn tình, trọn nghĩa, không hề phủi sạch hết ân tình của cuộc đời.
Ngài nhớ từng tha thiết với nhân sinh:
Thôi chớ cửa người nương tựa nữa
Ánh xuân một điểm khắp trời hoa
(Báo quân hưu ỷ tha môn hộ
Nhất điểm xuân quang xứ xứ hoa)
đã từng cảm thông với vinh nhục đường quan:
Chen chi chừ đường quan gai góc
(hồ vi hề quan đồ hiểm trở)
đã từng hiểu được tình đời đen trắng đổi thay:
Chịu sao chừ thói đời viêm lương
(Phả nại hề thế thái viêm lương)
Để rồi từ đó, Thượng sĩ đã dang lấy đôi tay để ấp ủ, che chở và hơn hết là nâng thân phận con người thoát khỏi khổ đau. Thượng sĩ đã tận tụy đi cùng con người qua bao gập ghềnh sanh tử để chấm dứt sanh tử:
Đã từng vật dục khiến lao đao,
Buông hết trần ai thoát khỏi nào.
(Tằng vi vật dục dịch lao khu
Bãi lạc trần hiêu thế ngoại du)
Thượng sĩ nói nghịch (trái) cũng được, nói thuận cũng được, trọng cũng được, khinh cũng được, không có một tướng nào cố định, nên không ai có thể lường nổi. Thế nên người đời đôi khi thờ Ngài như bậc thầy của hàng tu sĩ, đôi lúc thấy Ngài là một ông cư sĩ có vợ con, đôi khi thấy Ngài vui chơi thi thơ, đôi lúc thấy Ngài nghiêm trang trong dáng mạo của một Thiền sư. Ngài không hiện một tướng nào cố định mà có đủ cả thuận, nghịch, trọng, khinh.
Năng hậu
Có thể trọng (tôn trọng trung hiếu)
Nhìn thấy Trung Thượng Sĩ trong tác phẩm Thượng sĩ ngữ lục ta không thể không ngưỡng vọng và bái phục trước sự hiếu thuận của Thượng sĩ với thầy của mình là thiền sư Tiêu Dao ở tinh xá Phước Đường:
Hằng xa phong thái
Ở chốn hoang thôn
Thân tuy ngoài cõi Sâm với Thương
Ý vẫn ở trong gương loan và phượng
(Cửu vi phong thái
Kiều ký hoang thôn
Thân tuy thiên ngoại chi sâm thương
Ý hữu kính trung chi loan phượng)
Thượng sĩ bảo, đã lâu ẩn mình nơi chốn hoang thôn nên xa Thầy như sự xa cách của hai sao Sâm Thương ngoài ngõ. Nhưng dù xa Thầy mà tấm lòng của kẻ học trò này vẫn khắng khít gần gũi thầy như chim loan chim phượng chưa một phút rời xa.
Tuệ Trung rất hiểu và rất thương thầy. Người đến với bậc thầy của mình bằng tất cả tâm tình của người học trò. Ta không thể ngờ rằng những nhân vật vĩ đại như thế nhưng khi đối diện với ân sư Người lại nhỏ bé và đáng yêu như vậy.
Ý vụn sớm nhờ thêm ý khí
Lòng tàn riêng giữ chút lòng son
(Ý chuyết thiểu phùng thiêm ý khí,
Tâm hôi cô thủ thống tâm đan).
Hình ảnh trò quỳ bên chân Thầy dưới mái am tranh, nghe đào ra lá, nghe trúc khua nhạc, nhỏ to tâm sự những được mất nên hư, giải bày tất cả những tâm tình còn gút mắc trên đường hành đạo. Bậc thầy luôn lắng nghe, hiểu thấu và thương yêu học trò, luôn dạy bảo và là động cơ để giúp học trò vượt qua những khó khăn, phấn đấu cho sự nghiệp giải thoát để đền ơn thầy.
Thì, cuối cùng bức tranh ấy mới ấm cúng, trong trẻo, dễ thương và thiền vị làm sao giữa cuộc đời cằn cỗi và khốc liệt ngoài kia.
Tuệ Trung thờ thầy như thờ Phật, tin thầy như tin ngọn đèn pháp của Thế tôn:
Mới biết cõi người còn có Phật
Lửa lò sen nở lạ lùng chi!
(Tu tri thế hữu nhân trung Phật,
Hưu quái lô khai hoả lý liên).
Chính niềm tin ấy là năng lượng để mọi người học trò chứ không chỉ riêng Tuệ Trung nỗ lực, tinh cần tu tập để trưởng dưỡng đạo tâm, để làm một điều gì đó đền ơn pháp nhũ của Thầy.
Nhàn nhã ngâm khúc vô sanh
Hầu đáp ơn thầy mớm sữa
(Nhàn xướng vô sanh chi khúc
dụng thù pháp nhũ chi ơn).
Với Thượng Sĩ, sống là cả một nghệ thuật, không bị một khung cửa hẹp hay định kiến nào ước lệ -không Nho, không Lão mà là người thâm đạt Nho Lão. Hễ nói Nhân thì Thượng sĩ có thừa lòng thương người. Hễ nói Lễ thì Thượng sĩ hết sức trọn đạo Quân-Sư-Phụ. Hễ nói đến Nghĩa thì Thượng sĩ đã sống với người trên kẻ dưới, bạn bè đồng liêu luôn chung vai đấu cật khi nước nhà hoạn nạn. Hễ nói đến Trí thì ai qua được Thượng sĩ Trần Tung, siêu thoát đạo đời. Hễ nói đến Tín thì uy nghiêm của thượng sĩ cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Và hễ nói đến tiêu dao sống với thiên nhiên thì Thượng sĩ dư cái phong cách của một vị tiên thong dong tự tại:
Rảnh ném trái rừng kêu vượn đón
Lười câu cá suối gọi hạc giành
(Nhàn phao nham quả hô viên tiếp
Lãn điếu khê ngư dẫn hạc tranh).
Ở đây ta thấy rõ tư tưởng thiền của Tuệ Trung bao dung cả tư tưởng xuất xử của Nho và Lão. Thượng sĩ Tuệ Trung đã bước xuống đời bụi bặm như một kẻ mục đồng thõng tay vào chợ. Thượng sĩ đã ra đi từ cõi thanh tịnh bản nhiên để hóa thân cùng gió cát, không muộn phiền mà an nhiên với câu nhập thể tùy duyên để rồi người trở thành hiện thân của tinh thần hòa quang đồng trần, phá tan sự ngăn cách giữa giáo lý Phật-đà với con người trần tục. Người đã trở thành chiếc cầu nối thiêng liêng giữa tinh thần nhập thế và xuất thế, giữa những điều huyền nhiệm và những điều đời thường. Người đã đi vào đời bằng tất cả tinh thần từ bi và trí tuệ của vị Bồ Tát, hết sức khéo léo dung hòa giữa đạo và đời từ ngay chính con người Ngài và nơi đất nước, vua quan, sĩ thứ, mà Ngài đang sống.
Chỗ sâu lội vấn chừ, chỗ cạn vén
Dùng thì ra chừ, bỏ thì náu
(Thâm tắc lệ hề thiển tắc yết
Dụng tắc hành hề xả tắc tàng).
Gặp chỗ sâu thì để nguyên cả áo xống mà lội qua sông suối, chỗ nước cạn thì chỉ cần vén áo rồi bước qua. Dùng thì thi thố tài năng, bỏ thì lui về ẩn dật.
Ta thấy con người đạt quan của nhà nho là đây: hành tàng bất nhị kỳ quan. Đó cũng chính là tinh thần vô trụ, vô chấp của nhà thiền.
Năng bạc
Có thể khinh (xem nhẹ phú quý, vinh hoa)
Bằng chứng là Thượng sĩ đã từng tri túc, coi nhẹ việc đúng sai:
Nhà tranh cửa gỗ đời thanh thoát
Không đúng không sai tự tại tâm.
(Sài môn mao ốc cư tiêu sái
Vô thị vô phi tự tại tâm)
Thượng sĩ cũng đã từng thờ ơ với lợi danh được mất:
Cột rường chưa dụng người đừng lạ
Cỏ nội hoa ngàn mắt hiện tiền.
(Đống lương vị dụng nhân hưu quái
Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền)
Trần Nhân Tông đã khẳng định: “ Thượng sĩ hòa ánh sáng cùng thế tục, không trái với người đời. Nhờ đó mà nối được hạt giống pháp và dìu dắt được kẻ sơ cơ, người nào tìm đến hỏi đạo, Người cũng chỉ bảo cho biết điều cương yếu khiến họ trụ được cái tâm, mặc tính hành tàng không rơi vào danh hay thực”
Ở xứ lõa thân cởi áo đi
Phải đâu bỏ lễ, chỉ tùy nghi
(Khỏa quốc hân nhiên tiện thoát y
Lễ phi vô dã tục tùy nghi)
Nghĩa là đến xứ cởi trần thì cứ vui vẻ mà bỏ áo, không phải quên lễ chỉ tùy theo thói tục mà thôi.
Bao giờ cũng vậy, hễ muốn đến với quốc độ nào, chư Phật chư tổ đều phải hóa thân cho phù hợp với thế giới, tập tục, nghiệp dĩ của chúng sanh ở quốc lộ ấy.
Thì cũng vậy, Tuệ Trung Thượng sĩ khi:
Một khúc Vô sanh hát vừa im
Vác ngang cây gậy về cố hương
(Nhất khúc vô sanh xướng liễu thì
Tung hoành tất lật cố hương quy)
Khi đã sống được với niềm vui tự do nơi quê nhà, tự tại với chân tâm, niềm vui bất diệt ấy đã phải hóa thân với diệu dụng của tịch lặng, của “Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp” để đi vào đời, để nhập cuộc cùng thế sự trong cái “bản lai vô nhất vật”. Chính lúc ấy là lúc diệu dụng của bản nhiên, là lúc “Trăng đỉnh Lăng-giả sáng ánh tơ” tỏa chiếu khắp quần sanh:
Gió lộng không chia cao với thấp
Trăng soi đâu ngại chiếu trăm bề.
(Cổ nguyệt chiếu phi quan viễn cận,
Thiên phong xuy bất giản cao đê.)
Pháp hải độc nhãn, thiền lâm tam giác.
Một mắt của biển pháp, ba góc của rừng thiền.
Độc nhãn còn có tên gọi khác là: Nhất chích nhãn, chính nhãn, đảnh môn nhãn. Độc nhãn nghĩa là một mắt. Một mắt là chỉ cho mắt ở giữa hai chân mày tại huyệt ấn đường. Mắt này là mắt trí tuệ, còn hai mắt thịt của con người là mắt phàm phu thấy không thấu. Điều Ngự Giác Hoàng ví Thượng sĩ là mắt trí tuệ nhìn suốt được biển giáo pháp của Phật.
Đó là tán thán Thượng sĩ về mặt giáo lý. Còn ba góc của rừng thiền là sao? Nghĩa là ba quan điểm nơi nhà thiền. Ý nói tư tưởng thiền học của Thượng sĩ là dung hợp ba quan điểm Phật-Nho-Lão (Tam giáo đồng nguyên) để làm nên triết lý sống đạo trong đời của một thiền sĩ. Ngài đã thể hiện bằng thái độ “Tiến thoái bình thản” 26 là một trạng thái tâm lí, thông qua sự trải nghiệm sâu sắc của con người, trong bất kì hoàn cảnh nào tiến hay lui, được hay mất, động hay tĩnh… tâm lúc nào cũng giữ được yên tĩnh, bình thản. Đây là một vấn đề vô cùng khó khăn và phức tạp: Kẻ sĩ có người lựa chọn con đường của Nho gia “đạt thì kiêm tế thiên hạ, cùng thì độc thiện kì thân”, có người theo con đường “vô vi” của Đạo gia, dù họ theo đuổi con đường xuất-xử (hành-tàng), hoặc ngược lại là xử-xuất hay vừa xuất vừa xử… tất cả đều thấy khó khăn, người bị biếm trích, kẻ bất đắc chí gạt lệ thở dài, thậm chí có thể còn bị giết… Duy chỉ có thái độ “tiến thoái bình thản” là một trải nghiệm nhân sinh đặc biệt của Thiền, có thể làm con người tĩnh tâm lại, trước mọi biến đổi của xã hội, của bản thân; khiến con người vừa cố gắng làm tốt chức trách, nhiệm vụ của mình trong hiện tại, lại vừa vui sống thanh thản. Đây chính là tính minh triết và sự uyển chuyển của Thiền, giúp cho nhân sinh có một tâm lí ứng xử nhẹ nhàng, với cuộc sống, vừa có trách nhiệm với đời, lại vừa không bị đời trói buộc. Đó chính là Ba góc của rừng thiền (Thiền lâm tam giác).
Tư tưởng Thiền học của Trúc Lâm Trần Nhân Tông nói riêng, của Thiền phái Trúc Lâm nói chung đã chịu sự tác động tư tưởng, lối sống thiền của Tuệ Trung Thượng sĩ rất sâu đậm. Có thể nói tư tưởng Thiền của Tuệ Trung là tiền đề, là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho tòa lâu đài thiền phái Trúc Lâm, là que diêm đầu tiên bật lên ngọn đuốc thiền Việt Nam, trở thành ngọn đèn vô tận thắp sáng mãi những giá trị tư tưởng thiền cho đến hôm nay.
Thiền của Tuệ Trung hay thiền Trúc Lâm có thể nói là tương trợ cho nhau mọi mặt để tạo thành một thể hoàn chỉnh, đáp ứng nhu cầu thực tế muôn đời của con người là giải thoát khổ đau đạt được hạnh phúc. Đồng thời thăng hoa hạnh phúc con người lên đến bất sanh bất diệt.
Chúng ta cùng nhau tin tưởng rằng, Thiền phái Trúc Lâm nói riêng, Phật giáo Việt Nam nói chung không chỉ trước đây, bây giờ mà cho đến mai sau vẫn luôn đồng hành cùng Phật giáo vào đời, với tinh thần “Hòa quang đồng trần” của Tuệ Trung Thượng sĩ.
Con người của Ngài, nếu chúng ta quy chiếu từ bài tán Tuệ Trung của Trần Nhân Tông với thi ca và những lời đối cơ của Tuệ Trung, chúng ta thấy rõ những nét kỳ đặc nơi Ngài. Bên cạnh đó, Ngài còn vài điểm độc đáo nữa là dù mang thân cư sĩ nhưng Ngài lại là Thầy dạy đạo Thiền cho Vua, đã nêu lên khẩu hiệu “Hòa quang đồng trần” làm phương châm cho cả thiền phái, là thiền sư cư sĩ Việt Nam để lại nhiều thiền thi nhất, và cuối cùng cũng là một thiền sĩ thể hiện phong thái thiền thật rõ nét trong cuộc sống, rất xứng đáng để được đời tôn xưng là Thượng sĩ.
THƯ MỤC THAM KHẢO
- Thích Thanh Từ dịch 2004, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, nxb Tổng hợp Tp HCM.
- Lý Việt Dũng dịch 2002, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, nxb Mũi Cà Mau.
Viết tắt: TTTSNL = Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục
[1] Lý Việt Dũng dịch 2002, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục = TTTSNL, Chư nhân tán tụng-Pháp Loa cẩn tán, nxb Mũi Cà Mau, p.535
[2] Sđd
[3] Sđd
[4] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Thượng sĩ hành trạng, nxb Mũi Cà Mau, p.509
[5] Sđd
[6] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Tụng cổ-Cử: Lâm Tế đáo tháp chủ, nxb Mũi Cà Mau, p.257
[7] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Ngẫu tác, nxb Mũi Cà Mau, p.433
[8] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Chí đạo vô nan, nxb Mũi Cà Mau, p.441
[9] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Thị chúng, nxb Mũi Cà Mau, p.423
10 Thích Thanh Từ dịch 2004, TTTSNL, Thượng sĩ hành trạng, nxb Tổng hợp Tp HCM, p.59
[10] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Thị học, nxb Mũi Cà Mau, p.429
[11] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Phóng cuồng ngâm, nxb Mũi Cà Mau, p.304
[12] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Phóng cuồng ngâm, nxb Mũi Cà Mau, p.304
[13] Thích Thanh Từ dịch 2004, TTTSNL, Xuất trần, nxb Tổng hợp Tp HCM, p.496
[14] Thích Thanh Từ dịch 2004, TTTSNL, Lễ thiền sư Tiêu Dao Phước Đường (Thướng Phước Đường Tiêu Dao thiền sư), nxb Tổng hợp Tp HCM, p.454
[15] Thích Thanh Từ dịch 2004, TTTSNL, Lễ thiền sư Tiêu Dao ở Phước Đường (Thướng Phước Đường Tiêu Dao thiền sư), nxb Tổng hợp Tp HCM, p.454
[16] Sđd
[17] Sđd
[18] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Đối cơ-Như hà Thượng sĩ gia phong, nxb Mũi Cà Mau, p.167
[19] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Phóng cuồng ngâm, nxb Mũi Cà Mau, p.304
[20] Thích Thanh Từ dịch 2004, TTTSNL, Tự tại, nxb Tổng hợp Tp HCM, p.523
[21] Sđd, Cội tùng đáy khe (Giản để tùng), nxb Tổng hợp Tp HCM, p.494
[22] Sđd, Thượng sĩ hành trạng, nxb Tổng hợp Tp HCM, p.59
[23] Sđd, Vật không tùy người (Vất bất năng dung), nxb Tổng hợp Tp HCM, p.441.
[24] Sđd, Điệu tiên sư, nxb Tổng hợp Tp HCM, p.473
[25] Lý Việt Dũng dịch 2002, TTTSNL, Thị chúng, nxb Mũi Cà Mau, p.424.
26 PGS.TS Trần Lê Bảo, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử từ góc độ di sản văn hóa
http://tnti.vnu.edu.vn

0 Comments
Add new comment